Chữa bệnh trĩ bằng phương pháp thắt trĩ và tiêm trĩ

Liệu pháp thắt trĩ là gì?

Liệu pháp thắt trĩ là phương pháp điều trị bệnh trĩ đã có từ lâu đời. Qua sự cải tiến không ngừng, đến nay vẫn là mộ trong những phương pháp chữa trị trĩ bằng phẫu thuật thường được áp dụng. Liệu pháp thắt trĩ được chia thành rất nhiều loại như thắt trĩ đơn thuần, thắt trĩ phân đoạn và thắt lồng. Về hình thức thắt trĩ tuy mỗi phương pháp đều có đặc điểm khác nhau,nhưng cơ bản chúng đều thích ứng với các loại trĩ nội, đều dùng dây tơ thắt hay thắt lồng cổ phần đế trĩ nội, làm trĩ nội khô, rụng đi và khỏi bệnh. Ưu điểm của chúng là giản đơn hơn nhiều so với cách cắt bằng phẫu thuật của Tây y, người bệnh ít cảm thấy đau. Nhược điểm là không thể điều trị được trĩ ngoại.

thắt trĩ bằng vòng cao su

Hình ảnh thắt búi trĩ nội

Liệu pháp thắt trĩ có rất nhiều cách điều trị khác nhau, nhưng ở đây chỉ giới thiệu cách cắt trĩ đơn thuần. Chứng thích ứng và phương pháp thao tác của nó như sau:

– Chứng thích ứng: Các giai đoạn của trĩ nội

– Phương pháp thao tác: Cho người bệnh nằm ở tư thế nghiêng bên trái, khử trùng theo quy định chung cho phần da ở hậu môn, trải khăn và tiêm gây tê nôvôcain 1% ở quang hậu môn. Khi trĩ nội lộ ra hoàn toàn, sau đó dùng panh kẹt chặt phần đáy trĩ, dùng kéo mở 1 của nhỏ ở ranh giới niêm mạc da trên vùng lược, dùng một sợi tơ thắt ngay dưới panh cầm máu hoặc dùng kim tròn xuyên qua điểm giữa đáy trĩ 2 lần, rồi dùng sợi tơ thắt thành hình số “8”. Khi bác sĩ thắt chặt sợi tơ thì y tá chú ý phối hợp thả lỏng và bỏ panh cầm máu. Người ta dùng phương pháp thắt trĩ tương tự để tiến hành với các loại trĩ nội khác. Sau phẫu thuật phải dùng băng vadơlin và băng mềm để băng cố định.

Liệu pháp tiêm trĩ là gì?

Liệu pháp tiêm để điều trị trĩ nội giai đoạn đầu, đã có hơn 50 năm lịch sử. Thuốc dùng trước đây thường là glycêrin axit cacbônic 5%, muối axit dầu gan cá 5%. Mấy năm gầ đây liệu pháp tiêm đã có những bước phát triển. Trên cơ sở liệu pháp làm khô trĩ, người ta đã nghiên cứu chế tạo ra dịch tiêm làm khô trĩ, khi tiêm sẽ làm búi trĩ bị hoại tử, rụng đi.

Các loại thuốc dùng trong liệu pháp tiêm, có những tác dụng khác nhau đối với các mô trĩ. Thông thường có 2 loại là thuốc làm xơ hoá và thuốc gây hoại tử. Sử dụng thuốc hoại tử thường để lại các hậu di chứng như: viêm nhiễm, chảy nhiều máu và hẹp trực tràng, …vậy thường không được áp dụng. Thuốc tiêm làm xơ hoá, do thao tác giản tiện, không phá vỡ chức năng sinh lý bình thường của hậu môn trực tràng, không gây các chứng kéo theo và ít di chứng sau phẫu thuật, vì thế được dùng rất phổ biến. Hiện nay một số học giả của các nước Âu Mỹ và Nhật Bản cho rằng liệu pháp tiêm chính là liệu pháp làm xơ hoá trĩ.

Thuốc xơ hoá thường dùng có dầu phênôn thực vật 5%, glycêrin phênôn 5%, muối axit dầu gan cá 5%, nhũ bột magiê 4%, …

– Thuốc thường dùng: có rất nhiều loại thuốc liệu pháp tiêm, thuốc thường dùng có vitamin C, dịch tiêm đường glucôza 5%, phênêgan, quinin axit clohydric, … Thuốc chế thường dùng là dịch linh tiêu trĩ: phèn chua, ngũ bội tử, …(Bệnh viện Quảng An Môn, Bắc Kinh). Thuốc uống Hà tử: Hà tử, phèn chua, axittric,… (Bệnh viện số 2 trực thuộc Học viện Trung y Hồ Nam).

– Phương pháp tiêm: Căn cứ vào đặc điểm bệnh biến và giai đoạn nặng nhẹ của bệnh trĩ có thể áp dụng các cách tiêm khác nhau. Thông thường được chia ra: Tiêm đơn thuần, tiêm 2 lần vào một chỗ và tiêm 4 bước, …Dưới đây giới thiệu cách tiêm thường dùng nhất là tiêm đơn thuần.

Cách này chủ yếu thích hợp với trĩ nội, cho người bệnh nằm nghiêng bên trái, để lộ hoàn toàn hậu môn. Trước hết khử trùng theo quy định chung da vùng hậu môn, gây tê vùng rìa hậu môn, dung kính soi nhìn rõ trĩ nội, dung thuốc tiêm đơn thuần, tiêm vào phần dưới niêm mạc trĩ nội. Căn cứ vào loại thuốc tiêm khác và độ lớn của trĩ mà quyết định liều lượng tiêm. Chú ý phải dùng vải bẳngf dầu và để băng bó cố định.

– Yếu lĩnh thao tác:

  • Khi tiêm thuốc độ nông sâu phải thích hợp, nếu tiêm quá sâu vào tầng cơ, dễ gây ra hoại tử. Vị trí tiêm thích hợp nhất là tiêm và tầng dưới niêm mạc và tầng niêm mạc ổn định. Khi tiêm phải đưa kim vào trung tâm trĩ, khi đầu mũi kim chọc vào tầng cơ sẽ lập tức sinh ra sự phản kháng của cơ, lúc này không được đưa kim vào thêm, mà nới lùi mũi kim một chút, tức là đứ đầu mũi kim vào tầng dưới niêm mạc trĩ, có khi mới bắt đầu tiêm thuốc, vừa rút kim vừa xoay kim để tim thuốc, tiêm cho đến khi trĩ căng phồng đều khắp thì dừng. Lượng thuốc phải vừa khớp, khi đó niêm mạc chuyển từ màu đỏ sang màu trắng bợt, mạch máu trên niêm mạc xuất hiện một cách rõ ràng, nghĩa là lượng thuốc đã vừa phải;
  • Nếu tiêm dịch thuốc tập trung trên một bề mặt sẽ làm khoang ruột hẹp lại, còn khi dịch thuốc được phân bố đều, sẽ không bị tắc ruột.

– Cơ chế trĩ liệu của thuốc sơ hoá: Chủ yếu làm xơ hoá các mô trĩ từ đó làm niêm mạc trĩ cố định lại và cầm máu. Bởi vậy thuốc xơ hoá lý tưởng là loại phải gây xơ hóa tương đối mạnh ở khu vực tiêm, nhưng không gây hoại tử, không độc và không có tác dụng phụ.

– Ưu, khuyết điểm của liệu pháp tiêm: Ưu điểm là thao tác giản tiện, có thể sử dụng nhiều lần; ít chứng kéo theo và hậu di chứng. Khuyết điểm là chứng thích ứng chỉ giới hạn ở trĩ nội độ I – II, tỉ lệ tái phát cao; lượng thuốc tiêm vừa phải khó kiểm soát chính xác, nếu lượng thuốc tiêm quá nhiều dễ gây ra các chứng bội nhiễm (kéo theo) như: Trĩ xơ kết quá lớn, hoại tử và chảy máu nhiều.

Tham khảo: Cách chữa bệnh trĩ bằng thuốc xông đặc trị của Thuốc gia truyền Bảo Phúc.

Lê Nga / Sưu tầm